Một số điểm mới của Thông tư số 14/2015/TT-BTP ngày 14/10/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Tư pháp
Sign In

Một số điểm mới của Thông tư số 14/2015/TT-BTP ngày 14/10/2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Tư pháp

Ngày 14/10/2015, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 14/2015/TT-BTP hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng trong ngành Tư pháp thay thế Thông tư số 06/2011/TT-BTP ngày 07/3/2011 (gọi tắt là Thông tư số 14), Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 27/11/2015, nội dung Thông tư có một số điểm mới cơ bản so với Thông tư số 06/2011/TT-BTP như sau:

1. Về bố cục

 

Thông tư số 14 có 8 chương 45 điều tăng thêm 01 Chương 12 điều so với Thông tư số 06 do Thông tư đã tách Chương II của Thông tư hiện hành thành 02 chương riêng với tên gọi Tổ chức phát động phong trào thi đua (Chương II); Danh hiệu thi đua; đăng ký danh hiệu thi đua, ký giao ước thi đua (Chương III) nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa tên gọi với nội dung các điều được quy định trong từng Chương.

 

2. Về đối tượng thi đua

 

Thông tư số 14 đã tách riêng đối tượng thi đua thường xuyên; đối tượng thi đua theo đợt và theo chuyên đề thành 02 nhóm riêng được quy định tại khoản 1 và 2 Điều 2 theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số 07/2014/TT-BNV ngày 29 tháng 8 năm 2014 của Bộ Nội vụ: “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các ban, ngành, đoàn thể Trung ương chỉ khen thưởng cho tập thể, cá nhân thuộc cấp tỉnh quản lý khi tiến hành phát động thi đua theo chuyên đề”. Do vậy, nếu không tách đối tượng thi đua thường xuyên; đối tượng thi đua theo đợt và theo chuyên đề thì sẽ rất khó khăn trong việc xét thành tích đề nghị khen thưởng, dẫn tới khen thưởng trùng lặp với các Bộ, ngành, địa phương. Cùng một thời điểm, cùng một thành tích, nhưng các đơn vị, địa phương lại đề nghị nhiều ngành, nhiều cấp khen thưởng.

 

3. Về nguyên tắc và căn cứ xét khen thưởng

 

Điều 5 Thông tư số 14 đã bổ sung các nguyên tắc chính xác, công khai, công bằng, kịp thời, thiết thực tại điểm a khoản 1 và nguyên tắc không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được tại điểm b khoản 1 nhằm khắc phục tình trạng khen chồng chéo, trùng lắp, ngoài ra nguyên tắc về bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng cũng được bổ sung tại điểm g khoản 1; điểm d và đ khoản 2 điều này có bổ sung ưu tiên cho đối tượng nữ là cán bộ lãnh đạo quản lý, thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng có quá trình cống hiến được giảm 03 năm so với quy định chung. Đối với khen thưởng thành tích thường xuyên, khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọ cá nhân và tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng) cho phù hợp với khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 và Điều 2 Nghị định số 65/2014/NĐ-CP; bổ sung nguyên tắc đối với hình thức khen thưởng cấp Nhà nước từ Bằng khen Thủ tướng Chính phủ trở lên, trong một năm mỗi cá nhân chỉ được xét tặng một hình thức trừ trường hợp khen thưởng theo chuyên đề, khen thành tích đột xuất, khen cống hiến cho phù hợp với khoản 20 Điều 53, Nghị định số 42/2010/NĐ-CP.

 

4. Về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong công tác thi đua, khen thưởng

 

Nhằm đảm bảo gắn kết quả công tác đánh giá cán bộ, kết quả xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị với công tác khen thưởng, Thông tư số 14 quy định một số nội dung mới về trách nhiệm của Vụ trưởng Vụ Thi đua - Khen thưởng trong việc chủ trì, phối hợp với Vụ trưởng Tổ chức cán bộ, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan để tham mưu đề xuất khen thưởng cho cá nhân, tập thể trên cơ sở gắn với kết quả đánh giá cán bộ, công chức, kết quả xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị (điểm b khoản 2 Điều 6). Bổ sung quy định về trách nhiệm của Vụ trưởng Vụ Thi đua – Khen thưởng trong việc phối hợp với Cục Công nghệ thông tin và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai cơ sở dữ liệu về thi đua khen thưởng của ngành Tư pháp (điểm c khoản 2 Điều 6) cũng như trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan đơn vị có liên quan trong việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thi đua khen thưởng theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp (điểm đ khoản 3 Điều 6) nhằm từng bước tăng cường, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, phần mền quản lý hồ sơ trong lĩnh vực Thi đua – Khen thưởng của Ngành.

 

5. Về trách nhiệm tổ chức phong trào thi đua

 

Tại Khoản 2 Điều 8 của Thông tư số 14 đã bổ sung nội dung mới quy định về trách nhiệm của Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ trong tổ chức phát động phong trào thi đua theo đợt hoặc theo chuyên đề đối với tập thể, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị; trình Bộ trưởng ban hành kế hoạch phát động phong trào thi đua theo chuyên đề hoặc theo đợt thuộc lĩnh vực quản lý trong phạm vi Bộ, ngành sau khi có ý kiến thẩm định của Vụ Thi đua - Khen thưởng; tổ chức phát động phong trào thi đua theo chuyên đề hoặc theo đợt đối với tập thể, cá nhân trong cơ quan, đơn vị và báo cáo Cơ quan Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Tư pháp. Quy định như vậy nhằm tăng cường vai trò, trách nhiệm của Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, tránh trường hợp phát động thi đua và khen thưởng tràn lan không đúng đối tượng, hình thức phát động theo quy định; đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong công tác thi đua khen thưởng.

 

6. Về tiêu chuẩn xét danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”

 

Thông tư số 14 đã bổ sung Điều 10 quy định về tiêu chuẩn và thời điểm xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” để đảm bảo áp dụng thống nhất trong toàn ngành đồng thời quy định rõ hơn tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” là được lựa chọn các cá nhân có thành tích tiêu biểu xuất sắc nhất trong số những cá nhân có đủ tiêu chuẩn để xét tặng do tại Điều 8 Thông tư số 06 đã quy định ghép chung tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” với phần quy định về danh hiệu “Chiến sĩ thi ngành Tư pháp”.

 

7. Về tiêu chuẩn xét danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”

 

Tại Khoản 2 Điều 12 Thông tư số 14 quy định tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” không quá 15% tổng số cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến” của đơn vị, đây là nội dung mới so với Thông tư số 06. Thông tư số 06 đã không quy định tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cơ sở” mà tỷ lệ này được đưa vào văn bản hướng dẫn việc xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng hàng năm của Bộ. Tuy nhiên, hiện nay tại Điều 5 Thông tư số 07/2014/TT-BNV đã quy định danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được xét tặng không quá 15% tổng số cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến” vì vậy, cần quy phạm hóa nội dung này để đảm bảo thực hiện thống nhất trong toàn ngành Tư pháp.

 

8. Về tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”

 

Khoản 6 Điều 13 của Thông tư số 14 đã quy định cá nhân được điều động, biệt phái đến cơ quan, đơn vị khác trong một thời gian nhất định thì việc xem xét, bình bầu danh hiệu “Lao động tiên tiến” do cơ quan, đơn vị điều động, biệt phái xem xét quyết định trên cơ sở ý kiến nhận xét của cơ quan, đơn vị tiếp nhận cá nhân được điều động, biệt phái, đây là điểm mới của Thông tư số 14 mà trước đây Thông tư số 06 chưa quy định vấn đề này.

 

9. Tỷ lệ đề nghị xét tặng danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ”

 

Khoản 2 Điều 14 Thông tư số 14 đã bổ sung quy định số lượng tập thể đề nghị xét tặng danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ” không quá 20% tổng số tập thể đạt tiêu chuẩn tặng “Cờ thi đua ngành Tư pháp, đồng thời Thông tư số 14 cũng quy định rõ hơn tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ” được lựa chọn trong số các tập thể tiêu biểu xuất sắc nhất trong phong trào thi đua cấp Bộ.

 

10. Về các loại hình khen thưởng

 

Điều 19 Thông tư số 14  đã cụ thể các loại hình khen thưởng như khen thưởng theo công trạng; khen thưởng theo chuyên đề hoặc theo đợt; khen thưởng đột xuất; khen thưởng quá trình cống hiến; khen thưởng đối ngoại để phù hợp với Điều 10 Thông tư số 07/2014/TT-BNV và phù hợp với đối tượng, đặc thù quản lý, hoạt động của ngành Tư pháp.

 

11. Về tiêu chuẩn xét tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tư pháp

 

Điều 22 Thông tư số 14 có một số điểm mới so với Thông tư số 06 như: Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tư pháp được xét tặng cho cá nhân…..có 02 năm liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong thời gian đó có 02 sáng kiến, giải pháp được Hội đồng khoa học, sáng kiến cấp cơ sở công nhận và áp dụng hiệu quả trong phạm vi cấp cơ sở; Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tư pháp tặng cho tập thể…có 02 năm liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đây là nội dung quan trọng là điểm mới của Thông tư số 14 so với Thông tư số 06, không lấy danh hiệu thi đua làm tiêu chuẩn để xét tặng hình thức khen thưởng đối với cá nhân, tập thể nhằm khắc phục tình trạng khen nhiều, khen chồng chéo, trùng lắp.

 

12. Về thẩm quyền quyết định tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng

 

Khoản 3 Điều 24 Thông tư quy định: “Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ không có tư cách pháp nhân quyết định tặng giấy khen cho các tập thể, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý; ký Quyết định thừa lệnh Bộ trưởng và đóng dấu Bộ sau khi được Bộ trưởng phê duyệt đối với các danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Tập thể lao động tiên tiến” cho các tập thể, cá nhân thuộc đơn vị mình”. Đây là quy định mới so với Thông tư số 06 quy định như vậy để giảm bớt những công việc chi tiết Bộ trưởng phải xử lý, nâng cao trách nhiệm của Thủ trưởng các đơn vị, đồng thời đảm bảo phù hợp với quy định của điểm b, khoản 2, Điều 26 Nghị định số 65/2014/NĐ-CP.

Một điểm mới được quy định tại Khoản 4 Điều 24 Thông tư số 14 là bổ sung thêm đối tượng được Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự quyết định tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, danh hiệu “Lao động tiên tiến” và “Giấy khen” là Phó Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự để bảo đảm phù hợp với nội dung Thông tư số 09/2015//TT-BTP ngày 26/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định việc phân cấp quản lý công chức, viên chức, người lao động thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự và cơ quan Thi hành án dân sự.

 

13. Về đề nghị xét, tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng

 

Khoản 4 Điều 27 Thông tư quy định Giám đốc Sở Tư pháp hoàn thiện hồ sơ gửi Vụ Thi đua - Khen thưởng thẩm định, trình Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Ngành xét, đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp xét tặng danh hiệu “Cờ thi đua ngành Tư pháp” cho tập thể Sở Tư pháp; tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho tập thể, cá nhân thuộc phạm vi Sở Tư pháp quản lý có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong phong trào thi đua theo đợt, theo chuyên đề hoặc có thành tích đột xuất, xuất sắc. Quy định như vậy cho phù hợp với khoản 2 Điều 1 Thông tư số 07/2014/TT-BNV có quy định “Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các ban, ngành, đoàn thể Trung ương chỉ khen thưởng cho tập thể, cá nhân thuộc cấp tỉnh quản lý khi tiến hành phát động thi đua theo chuyên đề”.

 

14. Về thành phần Hội đồng Thi đua – Khen thưởng ngành Tư pháp

 

Bổ sung thêm chức danh Phó Chủ tịch Thứ nhất và Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng ngành Tư pháp (Thứ trưởng phụ trách công tác thi đua, khen thưởng là Phó Chủ tịch Thứ nhất, Vụ trưởng Vụ Thi đua - Khen thưởng là Phó Chủ tịch thường trực của Hội đồng).

 

Ngọc Bích.

Chung nhan Tin Nhiem Mang